04/04/2020 | 192 |
0 Đánh giá

Thông tư số 91/2008/TTLT -BTC -BTP của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng.

QUY ĐỊNH CHUNG 

 
 
   1.  Cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài yêu cầu Phòng công chứng thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, chữ ký... theo quy định của pháp luật thì phải nộp lệ phí công chứng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC- BTP ngày 21/11/2001 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp Hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí công chứng, chứng thực.

   2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định về lệ phí công chứng khác với quy định tại Thông tư này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

   3. Lệ phí công chứng thu bằng Đồng Việt Nam theo mức thu quy định.

   4. Đối với cá nhân có hộ khẩu thường trú tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, thì mức thu bằng 50% mức thu lệ phí công chứng quy định tại Biểu mức thu ban hành kèm theo Thông tư số 93.

   5. Cơ quan công chứng đồng thời thực hiện việc thu lệ phí theo quy định có trách nhiệm:
      a) Niêm yết công khai mức thu lệ phí công chứng tại trụ sở cơ quan nơi thu lệ phí.
      b) Đăng ký, kê khai lệ phí công chứng với cơ quan Thuế địa phương nơi cơ quan công chứng đóng trụ sở.
      c) Tổ chức thu, nộp lệ phí công chứng và mở tài khoản tạm gửi tiền thu lệ phí công chứng tại Kho bạc nhà nước địa phương nơi đặt trụ sở. Tuỳ theo số tiền thu lệ phí nhiều hay ít mà định kỳ hàng ngày (đối với Phòng công chứng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) hoặc tối đa là 10 ngày một lần (đối với cơ quan công chứng khác), cơ quan công chứng tiến hành lập bảng kê, gửi tiền thu lệ phí vào tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước.
      d) Khi thu tiền lệ phí công chứng cơ quan thực hiện công chứng phải cấp cho người nộp tiền lệ phí biên lai thu lệ phí công chứng do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành. Biên lai nhận tại Cục Thuế địa phương và được quản lý, sử dụng theo quy định của Bộ Tài chính.

   6. Số tiền lệ phí công chứng do Phòng công chứng tổ chức thu được quản lý sử dụng như sau:
      - Phòng công chứng số 1, số 2 thành phố Hồ Chí Minh: 15% (mười  lăm phần trăm);
      - Các Phòng công chứng còn lại 20%  (hai mươi phần trăm);
      Số tiền được tạm trích theo tỷ lệ (%) quy định trên đây được sử dụng vào các nội dung chi  phục vụ công tác thu lệ phí sau đây:
      a) Chi trả thù lao cho cán bộ, công chức, nhân viên đảm nhận thêm công việc thu lệ phí ngoài chức năng nhiệm vụ được giao (bao gồm cả làm thêm giờ).
      b) Chi phí tiền công và các khoản phụ cấp (nếu có) cho lao động thuê ngoài (kể cả chuyên gia, tư vấn và nhân viên không thuộc biên chế của đơn vị). Thủ trưởng cơ quan  công chứng căn cứ vào khả năng nguồn thu lệ phí công chứng và yêu cầu công việc để quyết định mức chi cho người lao động phù hợp theo chế độ hợp đồng lao động.
      c) Chi sửa chữa thường xuyên máy móc thiết bị (máy tính, máy in,...) phục vụ trực tiếp cho công tác công chứng và thu lệ phí.
      d) Chi in (mua) mẫu tờ khai và các loại ấn chỉ phục vụ thu lệ phí.
      đ) Chi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ.
      e) Chi khác liên quan trực tiếp đến công tác thu lệ phí.
      f) Trích quỹ khen thưởng cho cán bộ, công chức,  nhân viên của cơ quan công chứng có thu lệ phí. Mức trích quỹ khen thưởng bình quân một năm, một người tối đa không quá 3 (ba) tháng lương thực hiện.
      Đối với toàn bộ số tiền lệ phí công chứng được tạm trích theo quy định trên đây, cơ quan công chứng phải sử dụng đúng mục đích, có chứng từ hợp pháp theo chế độ quy định và quyết toán năm nếu chưa sử dụng hết thì phải nộp số còn lại vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm 2.2 mục này.

   7. Tổng số tiền lệ phí thu được, sau khi trừ số tạm trích để lại theo tỷ lệ quy định tại điểm 2.1 trên đây, số còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước.
      Định kỳ hàng tháng Phòng công chứng phải kê khai, nộp tiền vào ngân sách nhà nước (chương, loại, khoản tương ứng, mục 046 Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành) theo thời hạn và thủ tục quy định tại Thông tư số 54/1999/TT-BTC ngày 10/05/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04/1999/NĐ-CP ngày 30/01/1999 của Chính phủ về phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước.

   8. Lập và chấp hành dự toán thu - chi lệ phí công chứng:
      a) Hàng năm, căn cứ mức thu lệ phí công chứng, nội dung chi hướng dẫn tại Thông tư này và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, cơ quan công chứng lập dự toán thu - chi lệ phí công chứng chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước hiện hành gửi cơ quan chủ quản xét duyệt, tổng hợp gửi cơ quan tài chính đồng cấp có thẩm quyền phê duyệt.
      b) Căn cứ vào dự toán thu - chi năm đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan công chứng lập dự toán thu - chi hàng quý, chi tiết theo Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành, gửi cơ quan chủ quản, Kho bạc nhà nước nơi giao dịch, cơ quan Tài chính đồng cấp để làm  căn cứ kiểm soát thu - chi.

   9. Quyết toán thu - chi lệ phí công chứng:
      a) Các cơ quan công chứng có trách nhiệm mở sổ sách kế toán để ghi chép, hạch toán và quyết toán số thu - chi lệ phí theo Quyết định số 999/TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành hệ thống chế độ kế toán hành chính sự nghiệp; Thực hiện quyết toán chứng từ thu, số tiền lệ phí đã thu, nộp ngân sách nhà nước với cơ quan Thuế trực tiếp quản lý và nộp báo cáo quyết toán năm về số thu, nộp lệ phí công chứng cho cơ quan Thuế trước ngày kết thúc tháng 2 năm tiếp sau năm báo cáo và phải nộp đủ số tiền lệ phí còn thiếu vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo.
      b) Cơ quan chủ quản cấp trên có trách nhiệm kiểm tra xác nhận quyết toán thu - chi lệ phí công chứng của cơ quan công chứng trực thuộc và tổng hợp vào báo cáo quyết toán năm gửi cơ quan Tài chính thẩm định, ra thông báo duyệt quyết toán cùng với quyết toán năm của cơ quan chủ quản theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành.

 


(*) Xem thêm:

Bình luận